cổ học tử vi
Wiki Article
LÁ SỐ TỬ VI LÀ GÌ?
Lá số tử vi là một phương pháp dự đoán tương lai được sử dụng trong nhiều nền văn hóa châu Á, trong đó có Việt Nam. Lá số tử vi được xem là một phần của khoa học tâm linh và thường được sử dụng để đoán trước vận mệnh tương lai. Nhờ vậy mà bạn có thể nhận được các lời khuyên về sự nghiệp, tình yêu, gia đạo, sức khỏe và tài chính.
Để lập lá số tử vi cũng rất đơn giản. Bạn chỉ cần nhập đầy đủ, chính xác thông tin thời điểm sinh (năm, tháng, ngày, giờ) và giới tính của bạn vào vùng "Nhập thông tin" ở bên trên, sau đó nhấn vào nút bấm "lấy lá số" để lấy ảnh lá số và lời gợi ý luận giải tự động của nhóm Tử Vi Cổ Học.
GIỚI THIỆU VỀ BỘ MÔN TỬ VI ĐẨU SỐ
Tử Vi Đẩu Số cùng với Tứ Trụ là hai đại môn phái của mệnh lí học truyền thống Trung Quốc. Tử Vi Đẩu Số được xếp vào vị trí thứ nhất trong “Ngũ đại thần số” (năm môn thuật số lớn), gọi là “Thiên hạ đệ nhất thần số”.
Tử Vi Đẩu Số mang sắc thái thần bí của vũ trụ quan Đạo gia, đồng thời cũng rất chú trọng hoàn cảnh xã hội và ý nghĩa sâu xa của mối quan hệ xã hội của con người. Nó xuất phát từ quan niệm “Thiên Nhân hợp nhất” (thiên nhiên và con người hợp nhất) và thuyết âm dương ngũ hành, kết hợp với môn tinh tượng cổ đại, căn cứ vào hoàn cảnh không – thời gian tại thời điểm nào đó sinh ra để diễn thành mệnh bàn, liên hệ với các hào quẻ trong sách Chu Dịch, để dự đoán về khuynh hướng mệnh vận cũng như cát hung họa phúc của một đời người.
Tử vi đẩu số là một môn Chiêm tinh học, nghiên cứu sự ứng hợp giữa các tinh tú trong vũ trụ với con người.
Tử vi 紫微 = chòm sao Tử vi
Đẩu 斗= Sao (tinh đẩu)
Số 數= Số mệnh
Vào khoảng thời kì Bắc Tống (北宋, 960-1127), một nhân vật quan trọng của Đạo gia là Trần Đoàn (Trần Hi Di) đã sáng tạo nên Tử Vi Đẩu Số, mà tiền thân của nó là Thập Bát Phi Tinh, và chịu ảnh hưởng của thuật chiêm tinh Ấn Độ. Trần Đoàn người đất Hoa Sơn, ngày nay về phía Nam huyện Hoa Âm tỉnh Thiểm Tây, Trung Quốc là người có học thức uyên bác, hiệu là Phù Dao Tử, tinh thông dịch học, chịu ảnh hưởng rất sâu đậm tư tưởng Đạo gia. Ông đã tổng kết Đạo pháp nội đan, trước tác gồm có Dịch long đồ, Tiên thiên đồ, Vô cực đồ, là tiên phong trong trào lưu về phương pháp tu luyện của Đạo gia từ đời Tống trở về sau, có sức ảnh hưởng to lớn vào thời ấy và hậu thế. Người đời sau gọi ông là Hi Di Lão Tổ.
ĐẶC ĐIỂM CỦA BỘ MÔN TỬ VI ĐẨU SỐ
Xuất phát điểm của khoa học mệnh lí Tử Vi Đẩu Số là quan niệm “Thiên nhân hợp nhất” (Thiên nhiên và con người là một) và học thuyết âm dương ngũ hành, trên cơ sở trình tự luận đoán mệnh lí thông thường, kết hợp với những đặc điểm, địa vị tôn quý hay thấp hèn của các cát tinh (sao lành), hung tinh (sao dữ), hóa tinh (sao hóa) trong khu vực chòm sao Tử vi thuộc chính cung nằm chính giữa vùng trời phía bắc, cùng quy luật vận động xuôi ngược của chúng đối với trái đất, từ đó xem lại những hàm nghĩa mệnh lí khác nhau, do đó mà Tử Vi Đẩu Số có những đặc điểm và phương pháp của riêng mình.
Phương pháp cơ bản của Tử Vi Đẩu Số là căn cứ vào năm, tháng, ngày, giờ sinh để định ra cung mệnh, căn cứ vào đó để luận đoán về địa vị, nhân cách, tình trạng giàu nghèo, lành dữ trong một đời người, sau đó lần lượt định ra các cung: Huynh đệ (anh chị em), Phu thê (vợ chồng), Tử tức (con cái), Tài bạch (bủa cải), Tật ách (bệnh tật), Thiên di (di dời, xuất ngoại), Nô bộc (giao hữu, bạn bè cấp dưới), Quan lộc (công việc, sự nghiệp), Điền trạch (nhà cửa-ruộng vườn), Phúc đức (họ hàng, tổ tiên), Phụ mẫu (cha mẹ) để bày ra mệnh bàn. Sau đó, quan sát tổ hợp các sao ở mỗi cung để luận đoán mệnh lí đẩu số của chúng. Sau cùng, thông quan tứ Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa, Hóa Kị để tìm hiểu về các xu hướng biến hóa.
Ý NGHĨA VĂN HÓA CỦA TỬ VI ĐẨU SỐ
Là lí luận quan trọng của mệnh lí học truyền thống Trung Quốc, Tử Vi Đẩu Số không phải tồn tại độc lập, mà là một hệ thống mệnh lí hoàn chính dung nạp rất nhiều khái niệm hạt nhân của nền văn hóa và triết học Trung Quốc. Học thuyết Âm dương, học thuyết Nũ hành, lí luận Thiên can Địa chi của thời cổ đại, thậm chí cả thuật chiêm tinh có nguồn gốc từ Ấn Độ, đều được tổng hợp hài hòa trong Tử Vi Đẩu Số, làm cho Tử Vi Đẩu Số có một nội hàm văn hóa vô cùng phong phú.
Tử Vi Đẩu Số vận dụng học thuyết Ngũ hành ngay từ lúc bắt đầu lập mệnh bàn, thiết lập cục số ngũ hành và cục số ngũ hành nạp âm, đồng thời trong quá trình giải đoán mệnh bàn và luận đoán mệnh lí luôn kết hợp mật thiết với quy luật sinh khắc của ngũ hành, vận dung một cách linh hoạt học thuyết ngũ hành thời cổ đại.
Trong thuật Tử Vi Đẩu Số, lí luận Can chi của một mặt thông qua năm, tháng, ngày, giờ sinh để xác lập vị trí của 12 cung, mặt khác còn quyết định bố cục của các sao, nên có thể nói rằng, lí luận can chi có ảnh hưởng mang tính quyết định trên toàn bộ mệnh bàn.
CẤU TRÚC LÁ SỐ TỬ VI
Cung chức
Cung vốn là thuật ngữ của thiên văn học, dùng để chỉ vị trí mười hai lần tụ hội của mặt trăng và mặt trời trong quỹ đạo vận hành của mặt trăng và mặt trời trong một năm. Tử Vi đã dùng thuật ngữ này để chỉ những nội dung chủ yếu mà đời người phải trải qua, cùng với những nhân tố chủ yếu liên quan đến vận mệnh của con người. Mỗi một yếu tố trong mệnh bàn đều có một vị trí khác nhau tùy theo từng người.
Phần trung tâm lá số
Trung tâm lá số là các thông tin về Bạn, bao gồm ngày tháng năm sinh âm lịch và dương lịch, bản mệnh của Bạn, ngũ hành của bản mệnh, tương quan về âm dương và mệnh cục của Bạn.
Ý NGHĨA CÁC CUNG NHÂN BÀN KHÁC
Các thành phần trong 1 ô của lá số: Dưới đây là hình ảnh mô tả cấu trúc một cung trong lá số tử vi.
Chúng ta có thể nhận thấy các thành phần:
Tên của Cung Chức.(Ví dụ ở đây là cung Điền Trạch)
Vị trí của cung: ở đây là Tỵ
Sao Chính tọa thủ. (Trường hợp cung không có Sao Chính đóng được gọi là cung Vô Chính Diệu)
Các Sao Phụ chia làm 2 cấp đi cùng Sao Chính. Thường các sao phụ tinh cấp 1 khi kết hợp với chính tinh sẽ tạo thành bộ sao, có ý nghĩa nổi bật riêng.
Sao thuộc Vòng Tràng Sinh, vòng Bác Sĩ, vòng Thái Tuế
Đại vận: vận hạn trong 10 năm liên tục, tính theo tuổi âm bắt đầu khởi từ 2, 3, 4, 5 hoặc 6 tuổi, mỗi người sẽ khác nhau.
Lưu niên đại vận: vận hạn trong 1 năm
Nguyệt hạn: vận hạn trong 1 tháng
CÁC KHÁI NIỆN CƠ BẢN
1. Tinh, Diệu và Đẩu
Hai chữ Tinh và Diệu đều có nghĩa là: (ngôi) SAO. Còn Đẩu là chỉ chòm sao Nam Đẩu hay chòm sao Bắc Đẩu, chòm sao Bắc Đẩu này có 7 ngôi sao nên thường gọi là Thất Tinh Bắc Đẩu (thực tế nó có 9 ngôi sao, gồm cả Tả Phù và Hữu Bật ở 2 bên, nhưng vì 2 sao này khó thấy nên được coi là trợ tinh cho 7 ngôi chính trong chòm), chòm sao Nam Đẩu thì có 6 ngôi nên gọi là Nam Đẩu Lục Tinh. Vào khoa TVĐS, thì Đẩu được gán dùng gần như là riêng cho sao Tử Vi, ngoài ra nó còn được dùng để phân chia tính chất thuộc Nam Đẩu, Bắc Đẩu cho một số sao.
Cần phân biệt khi nào thì người ta dùng chữ Tinh còn khi nào thì dùng chữ Diệu:
- Tinh, được dùng chỉ các Sao nói chung, hơn trăm sao của khoa TVĐS đều có thể gọi là Tinh. Như:
+ Chính Tinh = Chính Diệu = 14 sao của 2 vòng Tử Vi, Thiên Phủ.
+ Phụ Tinh = tất cả các sao còn lại trừ 14 sao thuộc Chính Tinh.
+ Lục cát tinh = 6 sao phò trợ có tính tốt lành nổi bật (Khôi, Việt, Xương, Khúc, Tả, Hữu).
+ Lục sát tinh = 6 sao có tính hung sát nổi bật (Kình, Đà, Linh, Hỏa, Không, Kiếp). Trong đó thuật ngữ “Tứ Sát” được dùng phổ biến hơn gồm Kình, Đà, Linh, Hỏa.
+ Tứ Hóa tinh = 4 sao Lộc, Quyền, Khoa, Kị.
Về sự phân chia thứ/cấp bậc, một số sách Tàu (theo xuất phát từ đại tông sư Trương Khai Quyển) còn chia ra thành:
Giáp cấp tinh = các sao cấp một, cấp cao nhất, có tính quan trọng tác động mạnh mẽ nhất, gồm có 30 sao kể trên và 2 sao Lộc Tồn + Thiên Mã.
Ất cấp tinh = các sao cấp hai, gồm Thai - Tọa, Quang - Quý, Long - Phượng, Phụ - Cáo, Quan - Phúc, Tài - Thọ, Hồng - Hỉ, Giải Thần và Hình - Diêu, Thương - Sứ, Khốc - Hư, Cô - Quả,...
Bính cấp tinh = các sao cấp ba, gồm các sao của: vòng Bác Sĩ + vòng Tràng Sinh.
Đinh cấp tinh = các sao cấp bốn, gồm các sao vòng Tướng Tinh.
Mậu cấp tinh = các sao cấp năm, gồm các sao của vòng Thái Tuế.
Giới thiệu qua cách phân chia của Tàu để chúng ta khi đọc sách có thể hiểu rõ về thuật ngữ của họ, từ đó mà lần ra manh mối trong một số chiêu thức họ dùng. Chứ đối với Tử Vi Việt thì không phân chia rõ cấp độ Giáp Ất gì cả, vì một số sao cấp bét re như Tang, Tuế, Điếu nhiều khi còn có tác dụng mạnh, có tín hiệu thông tin rõ rệt hơn cả chính tinh tọa thủ.
- Diệu, từ này chỉ dùng chủ yếu cho 14 Chính Tinh và Tứ Hóa tinh và một vài sao quan trọng (thuộc nhóm sao cấp một) mà có thể phân định Miếu, Vượng, Đắc, Hãm, theo vị trí tọa thủ của chúng. Ta thường thấy các thuật ngữ như: Chính Diệu, Hóa Diệu, Sát Diệu, Tạp Diệu. Những sao thuộc cấp hai trở đi thì không được kể gọi là Diệu. Bởi vì 14 Chính Tinh được gọi là các Chính Diệu, cho nên cung nào mà không có Chính Diệu tọa thủ thì cung đó được gọi là Vô Chính Diệu.
2. Miếu, Vượng, Đắc, Bình, Hãm
Là những thuật ngữ được dùng chỉ nơi (cung) mà các sao tọa thủ, đồng thời cũng là nơi mà các sao phát huy được những tính chất tích cực cát lợi hay tiêu cực hung họa của chúng.
Một số trường phái dùng độ sáng của sao để mà giảng nghĩa về các thuật ngữ này, khá hình tượng và dễ hiểu: Khi một sao nào đó có được vị trí thuận lợi nhất, góc độ chiếu ánh sáng tốt nhất, thời gian phù hợp nhất,... thì được coi là nhập Miếu ở đó, bất kể là Cát tinh hay Hung tinh, lúc ấy đều mang đến những sự thuận lợi, khích lệ, những ảnh hưởng tích cực đối với người được ảnh hưởng bởi nó.
Chữ Miếu vốn có nghĩa là nơi thờ cúng thần linh, bởi vậy khi một sao nhập Miếu thì dù nó là Cát hay Hung tinh vẫn được coi như trở thành THẦN chứ không có Tính SÁT nữa. Cho nên, người ta lấy hình ảnh độ sáng rực rỡ, tinh anh của sao mà mô tả trạng thái nhập Miếu của sao.
Theo thứ tự Miếu, Vượng, Đắc, Bình, Hãm thì độ sáng giảm dần.
Tại sao người ta chỉ phân định vị trí Miếu, Vượng, Đắc, Bình, Hãm, cho một số sao?
Thưa, chỉ có những Diệu mới được coi là có thể thấy độ sáng rõ ràng, còn các phụ tinh khác thì ánh sáng có vẻ tương đương nhau suốt bốn mùa, dù là nó di chuyển đến góc nào, vị trí nào trên bầu trời vẫn thấy anh sáng không thay đổi.
Căn cứ vào đâu mà người ta phân biệt được sự thay đổi độ sáng này?
Thưa, trong thiên văn cổ, người ta (chủ yếu là các quan trong Khâm Thiên Giám hoặc cơ quan tương tự) quan sát và ghi chép rất tỉ mỉ về vị trí của các sao trên bầu trời trong suốt thời gian dài hàng trăm năm. Vì nhận thấy vị trí của khá nhiều sao có sự dịch chuyển sau 1 thời gian nhất định so với góc quan sát từ mặt đất, nên người ta mới dùng phương pháp vẽ ra các ô, các khung (gọi là cung) trên những tấm giấy ghi chép vị trí sao trên bầu trời. Rồi sau đó, khi nhìn trời người ta tưởng tượng trong đầu là vào thời gian đang quan sát thì những sao nào đang đi vào cung nào.
Trong môn Tử Vi, sự phân chia Miếu, Vượng, Đắc, Bình, Hãm, của các sao được căn cứ vào rất nhiều dữ kiện của Dịch Lý, Thiên Văn, Lịch Pháp, Ngũ Hành, Ngũ Sự, Tạp Chiêm,...
Ví dụ đối với Nhật - Nguyệt thì cứ theo lý thường (tạp chiêm) là ở các cung ứng với các Giờ theo thời gian thuộc Ban Ngày – khi mà Mặt Trời đang mọc lên thì Nhật được Đắc Vượng, đến các cung ứng với các giờ Tị, Ngọ thì Thái Dương nhập Miếu, sau đó là quá trình Mặt Trời lặn từ cung Thân cho đến các cung tương ứng Ban Đêm thì Thái Dương lạc Hãm. Đối với Nguyệt thì cũng theo cái lý tương tự nhưng diễn trình ngược lại.
Nhưng một số sao khác lại phải dùng Ngũ Hành mà định Đắc, Hãm,... một số sao lại phải dùng thời gian theo Lịch Pháp mà phân định nơi đắc hãm (có thời gian nó tỏ, có thời gian lại mờ)... một số sao lại phải dùng Dịch Lý (vị trí của các quái) mà định đắc, hãm,... chỉ có một điểm chung là mối tương quan Miếu Vượng Đắc Hãm của các sao đều phải phụ thuộc rất nhiều theo vị trí Miếu Vượng Đắc Hãm của 4 chúa tinh Tử - Phủ - Nhật – Nguyệt.
Khi các sao vào chỗ Hãm, thì dù là Cát tinh hay Hung tinh đều làm tăng tính tiêu cực, hung hiểm. Tính tốt, tích cực hầu như không phát huy được, trừ khi có Tuần Triệt đồng cung.
3. Các thuật ngữ về Cung, Thiên Bàn và Địa Bàn
Cung, là Không Gian nơi mà các sao cư ngụ, trên lá số Tử Vi được chia làm 12 cung, đặt tên theo 12 Địa Chi (từ Tý đến Hợi), đồng thời hàm chứa ý nghĩa về Thời Gian với 12 năm (Địa Chi theo Thái Tuế), 12 Tháng, 12 Giờ.
Như bài trước đã nói, Cung vốn là thuật ngữ của môn Thiên Văn Học, người ta phải chia sơ đồ trên giấy và trên trời (tưởng tượng có vạch phân chia) thành các cung khác nhau để theo dõi cho chính xác vị trí, triền thứ của sao sau mỗi thời gian nhất định trôi qua.
Khi đưa vào môn Tử Vi, vì cái lý "Trời tròn ôm lấy Đất vuông" của thuyết Cái Thiên, đầu tiên nên ta vẽ 1 hình vuông trên giấy để tượng trưng cho Đất, đó gọi là Địa Bàn. Tiếp đó, đem 12 cung của vòng tròn (như 1 tấm lưới 12 ô) tượng trưng cho Trời áp lên trên hình vuông của Địa bàn, 12 cung đó chính là Thiên Bàn. Để dễ nhìn và dễ vẽ 12 cung của vòng tròn Thiên Bàn được điều chỉnh thành vòng tuần hoàn 12 ô liên tiếp nằm ôm vừa vặn lấy hình vuông của Địa Bàn. Phần còn lại của Địa Bàn lúc này chỉ còn là ô vuông lớn nằm giữa lá số. Còn 12 ô vuông bé được gọi là Thiên Bàn.
Trước giờ khái niệm/thuật ngữ này được hiểu lẫn lộn, nhiều sách/người gọi ngược nhau, vì nhiều người cho rằng 12 ô vuông bé kia là Địa Bàn do nó mang tên của các Địa Chi. Thưa, không phải vậy, tên của 12 cung đó ban đầu là lấy theo tên của 12 cung trong Thiên Văn, sau mới được áp dụng tên Địa Chi của 12 tháng trong năm. Hơn nữa, các Sao thì phải nằm ở các cung trên trời, trên Thiên Bàn chứ, lẽ nào mà sao lại nằm ở dưới đất, dưới Địa Bàn cho được.
- Các cung Dần, Mão, Thìn: đại diện cho các tháng Giêng, Hai, Ba. Thuộc hướng Đông, trong đó vị trí Mão trỏ hướng Chính Đông. Đại diện cho mùa Xuân, có Hành thuộc Mộc, riêng cung Thìn thuộc Thổ vì tháng Ba là lúc khí Mộc của mùa Xuân đã bị suy yếu ẩn tàng đi để chuẩn bị bước sang mùa Hạ.
- Các cung Tị, Ngọ, Mùi: đại diện cho các tháng Tư, Năm, Sáu. Thuộc hướng Nam, trong đó vị trí Ngọ trỏ hướng Chính Nam. Đại diện cho mùa Hạ, có Hành thuộc Hỏa, riêng cung Mùi thuộc Thổ vì vào tháng Sáu thì khí Hỏa từ trời chiếu xuống đã suy yếu, thời tiết chuẩn bị bước sang mùa Thu.
- Các cung Thân, Dậu, Tuất: đại diện cho các tháng Bảy, Tám, Chín. Thuộc hướng Tây, trong đó vị trí Dậu trỏ hướng Chính Tây. Đại diện cho mùa Thu, có Hành thuộc Kim, riêng cung Tuất thuộc Thổ vì khi ấy khí khô táo của mùa Thu suy yếu, thời tiết có gió lạnh và chuẩn bị chuyển sang mùa Đông.
- Các cung Hợi, Tý, Sửu: đại diện cho các tháng Mười, Một (11), Chạp (12). Thuộc hướng Bắc, trong đó vị trí Tý trỏ hướng Chính Bắc. Đại diện cho mùa Đông, có Hành thuộc Thủy, riêng cung Sửu thuộc Thổ vì khi ấy khí lạnh đã suy yếu, chuẩn bị chuyển sang ấm áp của Mùa Xuân.
- Các Quái của các cung được phối với Hậu Thiên Bát Quái: Từ cung Tý ứng quái Khảm, Sửu & Dần ứng quái Cấn, Mão ứng quái Chấn, Thìn & Tị ứng quái Tốn, Ngọ ứng quái Ly, Mùi & Thân ứng quái Khôn, Dậu ứng quái Đoài, Tuất & Hợi ứng quái Càn.
- Nhàn Cung = Nơi mà một Sao nào đó có độ sáng kém, mờ,… nói cách khác thì ở “nhàn cung” thì Sao ấy lạc vào vị trí Bình hoặc Hãm. Thuật ngữ này dùng chủ yếu cho các Chính Diệu và các Cát tinh, vì khi đề cập đến nó thì người ta hay nói “lạc nhàn cung thì sức cứu giải kém,… lạc nhàn cung thì vô uy lực,…”, chứ hiếm thấy người ta sử dụng thuật ngữ này để nói về các Sát, Hung tinh.
- Cường Cung = Các cung (được cho là) có ảnh hưởng mạnh mẽ, quan trọng đối với số phận của 1 con người, đó là các cung: Mệnh, Phúc, Phu Thê, Quan Lộc, Tài Bạch, Thiên Di.
- Bản Cung = Cung mà ta đang xét, đang luận.
Ví dụ đang luận về vấn đề cha mẹ ở cung Phụ Mẫu thì cung này được gọi là Bản Cung. Nếu luận về vấn đề sức khỏe ở cung Tật Ách thì cung này được gọi là Bản Cung.
- Xung Cung = Hai cung mà nằm trên cùng một trục (trong 6 trục: Tý-Ngọ, Sửu-Mùi, Dần-Thân, Mão-Dậu, Thìn-Tuất, Tị-Hợi) thì được gọi là xung cung của nhau. Đôi khi, người ta còn gọi là “cung xung đối” hoặc “cung đối xung” vì 2 cung này vừa có Tính đối xứng với nhau qua tâm (trên trục của chúng và cũng là) của lá số, lại vừa có Tính đối xứng trục (qua trục khác vuông góc với trục của chúng).
Trong khi xem số (khán số), luận đoán lá số, thì Xung Cung có ảnh hưởng rất mạnh đối với cung đang xét. Vì lý rằng “có xung thì có động” (xung động) và ảnh hưởng của các sao trực chiếu (chiếu thẳng từ cung này tới cung xung với nó) là tác động cực lớn.
- Đối Cung = Hai cung mà có Tính đối xứng với nhau qua tâm hay qua một trục nào đó thì được gọi là “đối cung”.
Ví dụ 1: Xung Cung là trường hợp đặc biệt của Đối Cung.
Ví dụ 2: Cung Tý và cung Sửu được coi là đối cung của nhau qua trục phân chia gianh giới các cung Tý-Sửu và Ngọ-Mùi (nói cách khác là trục chia đôi lá số theo chiều dọc).
Ví dụ 3: Cung Tý và cung Tuất được coi là đối cung của nhau qua trục Tị-Hợi.
- Tam Phương = Ba cung Tam Hợp hợp với nhau = Từ 1 là Bản Cung đếm xuôi ngược đến 5 và đến 9 thì tới cung được gọi là Tam Hợp. Trên lá số Tử Vi có các Tam Hợp như sau:
+ Thân-Tý-Thìn: Ba cung này còn gọi là Tam Hợp Cục Thủy, tức là nhóm 3 cung này thành 1 cục và Hành của cục này là hành Thủy. (Nếu dùng lý tiêu trưởng 12 bước của vòng Tràng Sinh thì sẽ thấy địa chi đứng đầu sẽ ứng với vị trí Tràng Sinh, địa chi đứng giữa của Tam Hợp này sẽ ứng với vị trí Đế Vượng, địa chi đứng cuối sẽ ứng với vị trí Mộ. Nơi khí được Vượng nhất thì được lấy làm đặc trưng cho Tam Hợp này, mà Tý thì thuộc Thủy, cho nên Tam Hợp này mang hành Thủy).
+ Hợi-Mão-Mùi: còn gọi là Tam Hợp Cục Mộc.
+ Dần-Ngọ-Tuất: còn gọi là Tam Hợp Cục Hỏa.
+ Tị-Dậu-Sửu: còn gọi là Tam Hợp Cục Kim.
- Tứ Chính = Ba cung Tam Hợp + Xung cung.
Lưu ý: Tam phương Tứ chính thường được dùng cùng với nhau để nói về 3 cung, 4 cung mà có tác động mạnh mẽ nhất đến Bản Cung.
Ngoài ra, thuật ngữ Tứ Chính còn được dùng để chỉ 4 cung Tý, Ngọ, Mão, Dậu vì Hành mỗi cung này là đại diện Chính cho các Hành của Cục mà nó tham dự.
Bên cạnh đó, cũng cần phải lưu ý, Tứ Chính còn được trường phái Tứ Hóa Phi Tinh của Tử Vi coi là 1 khái niệm riêng về 4 cung trên 2 trục trực giao (vuông góc với nhau), thí dụ như tổ hợp các cung Mệnh – Di – Điền – Tử.
Tổ hợp tương tác Tam Phương và tổ hợp tương tác trên 4 cung của 2 trục trực giao cũng là những tổ hợp chính trong phương pháp luận đoán của Chiêm Tinh Vedic và Chiêm Tinh phương Tây, trong đó, Tam Phương là có góc chiếu 120 độ (tính từ tâm, tức địa bàn quan sát) được gọi là tổ hợp tương tác Grand Trine = Đại Tam Hợp, còn tổ hợp 4 cung trên 2 trục trực giao có góc chiếu 90 độ (tính từ tâm) được gọi là tổ hợp tương tác T Square = T Vuông hay là Đại Trực Giao, còn tổ hợp 4 cung gồm 3 cung Tam Hợp và 1 cung ở đối xung với 1 đỉnh trong tam giác tam hợp đó thì được gọi là tổ hợp tương tác Kite = Hình Diều và đây chính là tổ hợp tương tác giống như thuật ngữ Tam Phương Tứ Chính của Tử Vi Đẩu Số theo trường phái Tam Hợp.
- Hiệp: Các Cát Tinh ở các cung giáp bên, tam hợp, đối chiếu cùng chiếu về bản cung có Cát Tinh; hoặc các Hung Tinh cùng tụ tập về bản cung có Hung Tinh; tức là các sao cùng tính cát (tốt) hay hung (xấu) tụ hội với nhau thì được gọi là "hiệp" = hiệp trợ, cùng hợp sức, cùng trợ giúp,... cho nhau.
- Hiếp: Các Hung Tinh ở các cung tam hợp, đối chiếu, giáp bên, cùng chiếu về bản cung có Cát Tinh, thì gọi là "hiếp" = ức hiếp, đe dọa, gây hoạn nạn,...
- Tọa: Các Cát Tinh nhập vào bản cung thì được gọi là Tọa (ngồi).
- Cứ: Các Hung Tinh nhập vào bản cung thì được gọi là Cứ (chiếm giữ).
- Triều: Các Cát Tinh ở cung xung đối, chiếu về bản cung thì được gọi là Triều (chầu).
- Xung: Các Hung Tinh ở cung xung đối, chiếu về bản cung thì được gọi là Xung (xung kích, kích động).
- Củng: Các Cát Tinh ở cung tam phương tứ chính (đôi khi tính cả cung nhị hợp) thì được gọi là Củng = vây quanh để củng cố, hỗ trợ.
- Cung Nhị Hợp = các cung đối xứng với nhau qua trục chia gianh giới dọc lá số, ảnh hưởng của Nhị Hợp thường có tính chất 1 chiều thì mạnh, chiều ngược lại thì yếu, có 6 cặp cung:
+ Sửu nhị hợp vào Tý
+ Hợi nhị hợp vào Dần
+ Mão nhị hợp vào Tuất
+ Dậu nhị hợp vào Thìn.
+ Tị nhị hợp vào Thân.
+ Mùi nhị hợp Ngọ.
- Cung Lục Hại = các cung đối xứng với nhau qua trục chia gianh giới ngang lá số, ảnh hưởng của Lục Hại có tác dụng 2 chiều tương đương và thường là khắc chế, làm hại lẫn nhau. Các cặp cung Lục Hại:
+ Tý <-> Mùi.
+ Sửu <-> Ngọ.
+ Dần <-> Tị.
+ Mão <-> Thìn.
+ Thân <-> Hợi.
+ Dậu <-> Tuất.
- Lân Cung, Giáp Cung = các cung ở cạnh, liền kề ngay bên bản cung thì được gọi là Lân (hàng xóm) Cung, giáp cung.
Các sao đôi từng cặp (như Nhật Nguyệt, Xương Khúc, Không Kiếp,...) mà ở tại các Lân Cung thì được gọi là "giáp bản cung" (gọi tắt = giáp).
- Thiên La = cung Thìn. Thìn là nơi biểu hiện của ngày Đông chí, mặt trời tới giờ Thìn mà vẫn "chưa mọc hết" tức là ở vị trí thấp nhất với đường chân trời so với các ngày khác trong năm. Hiện tượng đó được hình dung như mặt trời bị vướng vào cái lưới nên đặt tên là Thiên La cho cung Thìn, đặt vào đó 1 "sao" gọi là Thiên La, tượng là cái lưới, chặn, vướng mắc, khó khăn,...
- Địa Võng = cung Tuất. Tuất là nơi biểu hiện của ngày Hạ chí, mặt trời tới giờ Tuất mà vẫn "chưa lặn hết" tức là ở vị trí cao nhất với đường chân trời so với các ngày khác trong năm. Hiện tượng đó được hình dung như là mặt đất bị võng xuống nên giờ ấy mặt trời vẫn chưa lặn hết, nên đặt tên Địa Võng cho cung Tuất, đặt ở đó 1 sao Địa Võng, tượng là cái hố, cái bẫy, đất sụt, khó khăn,...
- Tứ Sinh / Tứ Mã = vị trí của các cung Dần, Thân, Tị, Hợi.
Tại đó, luôn luôn là vị trí mà sao Thiên Mã và sao Tràng Sinh, không bao giờ 2 sao này được an ở các cung ngoài 4 cung này.
Nếu xét các bộ Tam Hợp (ví dụ, Thân-Tý-Thìn) thì địa chi đứng đầu bao giờ cũng là ở vị trí của Sinh.
- Tứ Bại / Tứ Đào Hoa / Tứ Chính = vị trí của các cung Tý, Ngọ, Mão, Dậu.
Tại đó luôn luôn là vị trí của Mộc Dục (của vòng Tràng Sinh cho Địa Chi) và của Đào Hoa, chủ phát dục, tình ái, tửu sắc cho nên gọi là Bại. Nếu xét các bộ Tam Hợp thì Địa Chi đứng chính giữa bao giờ cũng thuộc về Tứ Chính bởi vì đứng giữa Tam Hợp cũng là đứng giữa Tam Hội và ở Chính hướng theo các phương hướng Đông Tây Nam Bắc đồng thời là đại diện Chính cho Ngũ Hành của Tam Hợp và Tam Hội.
- Tứ Mộ = Các cung Thìn, Tuất, Sửu, Mùi.
Nguyên nhân và ý nghĩa cũng tương tự như cách giải thích 2 trường hợp trên.
- Lôi Môn = cung Mão, đó là vị trí được phối với quẻ Chấn, mà Chấn vi Lôi (chấn là sấm sét).
- Thiên Môn = cung Hợi (có khi kể cả Tuất) vì đó là vị trí được phối với quẻ Càn, mà Càn vi Thiên.
- Địa Môn = cung Tị (có khi kể cả Thìn) vì đó là nơi đối diện với Thiên Môn.
* Có nhiều sách dùng thuật ngữ "Thiên Môn, Địa Hộ" (cửa trời, cửa đất) là để chỉ cung Thìn và cung Tuất.
- Phân chia Tam Tài cho cung:
+ Tý Ngọ Mão Dậu thuộc tài Thiên, vì "Thiên khai ư Tý".
+ Thìn Tuất Sửu Mùi thuộc tài Địa, vì "Địa tịnh ư Sửu".
+ Dần Thân Tị Hợi thuộc tài Nhân, vì "Nhân sinh ư Dần".
PHƯƠNG PHÁP LUẬN TỔNG QUÁT
Quan sát tổng quát 1 lượt khắp lá số (đừng có tạo thói quen xấu là cầm lá số tử vi lên lại cắm cúi ngay vào xem mỗi cung Mệnh hay mỗi cung nào đó đang quan tâm):
1. Thuận lý hay Nghịch lý giữa [Năm sinh với Tháng sinh]; giữa [Ngày sinh với Giờ sinh].
Trong mỗi cặp so sánh, nếu các yếu tố cùng thuộc dương thì thuận lý, còn một dương một âm thì nghịch lý. Nếu cả 4 yếu tố đều thuộc âm hay đều thuộc dương là rất tốt vì được thuần cách âm dương tính. Thuận lý thì độ số tăng, nghịch lý thì độ số giảm.
2. Tương Sinh hay Tương Khắc giữa [Năm sinh với Tháng sinh]; giữa [Ngày sinh với Giờ sinh].
So sánh về Sinh Khắc của Nạp Âm Ngũ Hành các yếu tố trong từng cặp xem thế nào: Nếu năm tương sinh cho tháng thì tốt; ngày tương sinh cho giờ thì tốt. Nếu Năm sinh cho Tháng, Tháng lại sinh cho Ngày, Ngày sinh cho Giờ thì rất tốt, số đại quý.
3. Hợp hay Phá giữa [Năm sinh với Tháng sinh]; giữa [Ngày sinh với Giờ sinh].
So sánh về sinh khắc của Ngũ Hành đơn theo Thiên Can của các yếu tố trong từng cặp. Hợp thì độ số tăng mà Phá là độ số giảm.
* Nhận xét: Từ các điểm 1, 2, 3, thì ta có thể phân biệt được sự khác nhau và độ số cao thấp của 2 lá số giống hệt nhau nhưng sinh cách nhau 60 năm. Bởi lẽ Can-Chi của ngày khác nhau (đồng nghĩa với Can của Giờ cũng khác nhau). Lại có cả những trường hợp 2 lá số giống hệt nhau nhưng chỉ sinh cách nhau 12 ngày hoặc 24 ngày trong cùng tháng cùng năm và trùng cả giờ sinh, điều này chỉ xảy ra với Thủy Nhị Cục (6 trường hợp) và Thổ Ngũ Cục (12 trường hợp), và sự lệch nhau theo số ngày như trên làm cho 4 sao Thai Tọa Quang Quý đóng vào vị trí giống nhau theo vòng lặp, để phân biệt sự khác nhau về độ số của các lá số trùng lặp này, rất đơn giản là nhìn vào Thiên Can của Ngày (và Giờ), bởi vì lặp lại 12 & 24 ngày chính là lặp lại về Địa Chi của ngày nhưng đối với Thiên Can của ngày thì lại không bị lặp lại giống nhau. Đây là điều trọng yếu mà trước giờ ít người biết đến hoặc không để ý đến, hoặc là có biết nhưng không nói lộ ra.
4. Tương Sinh hay Tương Khắc giữa [Bản Mệnh với Cục].
Bản Mệnh = hành khí nạp âm của cả năm. Ví dụ, người sinh Quý Tị có Bản Mệnh là Thủy. Thì khí Thủy làm chủ của cả năm Quý Tị này.
Hành của Cục = hành khí nạp âm của tháng (trong năm mà đương số sinh ra) – chính là nơi mà an cung Mệnh vào đó.
Nếu mà Mệnh Cục tương sinh hoặc tỉ hòa với nhau thì được đánh giá là một yếu tố tốt – làm tăng độ số, không cần phân biệt quá chi tiết xem Mệnh sinh Cục tốt hơn hay Cục sinh Mệnh thì tốt hơn. Còn nếu như Mệnh Cục tương khắc thì cần đánh giá đây là một yếu tốt kém – làm giảm độ số, cũng không cần phân biệt quá chi tiết xem Mệnh khắc Cục xấu hơn hay Cục khắc Mệnh xấu hơn.
Lưu ý: đã xét sinh khắc của Ngũ Hành thì đồng thời phải chú ý đến Âm Dương tính của chúng, mà Âm Dương tính của Bản Mệnh với Cục chính là bước ngay sau đây.
4+. Thuận lý hay Nghịch lý giữa [Năm sinh với Cung an Mệnh].
Sinh năm dương và Mệnh an cung dương; sinh năm âm và Mệnh an cung âm; đều là thuận lý. Cứ trái nhau về âm dương là nghịch lý.
Thực chất thì đây cũng chính là xét đến Âm Dương tính của Bản Mệnh với Cục, nếu như Mệnh Cục tương sinh và Âm Dương thuận lý thì độ số tăng mạnh (độ số là thuật ngữ chung chung chỉ về cường độ của khí lực) nếu Cách Cục tốt nữa thì sẽ lực phát rất nhanh mạnh, nếu Cách Cục xấu thì cũng là yếu tố cứu vớt cho đỡ bị chết non. Nếu như Mệnh Cục tương sinh nhưng Âm Dương nghịch lý thì có Cách Cục tốt vẫn chậm phát hoặc không phát lớn vì lực phát yếu, còn Cách Cục mà xấu thì cũng không cứu được nhiều. Nếu như Mệnh Cục tương khắc mà Âm Dương nghịch lý thì Cách Cục tốt vẫn sẽ phát nhưng rất chậm, do cái khắc khác tính Âm Dương không ác liệt, nếu Cách Cục xấu thì cũng chưa chắc đã chết non mà có thể cứu được. Nếu như Mệnh Cục tương khắc mà Âm Dương thuận lý thì cái khắc cùng tính Âm Dương này rất mãnh liệt, Cách Cục tốt thì vẫn không được hưởng nhiều mà phát thì cực chậm lại chẳng thể phát lớn, còn một khi Cách Cục xấu mà Mệnh cung lại còn ở chỗ Tuyệt khí thì chết non, khó cứu.
Lưu ý: Sách của Thái Thứ Lang còn nói “Sinh Giờ dương mà Mệnh an cung dương là thuận lý”. Từ cách an cung Mệnh, ta thấy khi sinh tháng dương thì giờ cũng phải thuộc dương thì cung Mệnh mới đóng ở dương cung, khi sinh tháng âm thì giờ sinh phải là dương thì Mệnh mới an ở cung âm được. Cho nên sự so sánh về thuận nghịch lý âm dương của [Giờ sinh với cung an Mệnh] không cần phải quan tâm nữa.
5. Mối quan hệ giữa [Hành của Bản Mệnh với Cung an Mệnh]
Nếu cung Mệnh ở vào vị trí Sinh Vượng của ngũ hành Bản Mệnh thì tốt. Thấy tốt rồi thì xét thêm đến tinh đẩu trong cung Mệnh (xem mục 6 bên dưới) xem miếu vượng hay không, có thành cách cục hay không,… Cần chú ý rằng, ở đây chúng ta không xét sự sinh khắc về Ngũ Hành của Bản Mệnh với cung an Mệnh, mà chúng ta xét vị khí cung an Mệnh nằm ở chỗ nào, thời kỳ nào trong 12 trạng thái vượng suy theo khí Ngũ Hành của Vòng Tràng Sinh Bản Mệnh.
Nếu như cung Mệnh ở vào vị trí Bại Suy Tử Tuyệt của ngũ hành Bản Mệnh thì xấu. Nhưng ở vào chỗ này, nếu như được ngũ hành của Chính Tinh tương sinh cho Bản Mệnh thì lại được cứu giải.
Ví dụ như Mệnh Thủy mà cung Mệnh an tại Thân (khỉ) là Sinh địa, an tại Dậu là Bại địa, an tại Hợi Tý là chỗ Thịnh Vượng, an tại Sửu là Suy, tại Dần là Bệnh, tại Mão là Tử, tại Tị là Tuyệt địa.
Mệnh Thủy mà Mệnh an tại Tị, có sao thuộc hành Kim ở đó là sẽ được cứu giải, vì Kim tương sinh cho Thủy.
Sách viết:
- Nam cư Sinh Vượng tối yếu đắc địa, Nữ cư Tử Tuyệt chuyên khán Phúc Đức.
(Nam nhân mệnh ở chỗ Sinh Vượng thì tối quan trọng phải xem tinh đẩu có đắc địa chăng,
Nữ nhân mệnh ở chỗ Tử Tuyệt thì phải xem chuyên sâu vào cung Phúc Đức).
- Mệnh tối hiềm lập vu bại địa, Tài nguyên khước phạ phùng Không Vong.
(Mệnh rất sợ an vào chỗ bại địa, Tài tinh tài cung thì ghét gặp phải Không Vong).
- Sinh phùng bại địa, phát dã hư hoa. Tuyệt xứ phùng sinh, sinh hoa bất bại.
(Mệnh cư chỗ bại địa là như hoa sớm nở tối tàn. Mệnh ở chỗ tuyệt địa nhưng được tương sinh thì không thể suy tàn sớm được).
5+. Thuận hay không thuận của [Bản Mệnh với Mùa sinh].
Bản Mệnh Mộc sinh mùa Xuân mộc, Bản Mệnh Hỏa sinh mùa Hạ hỏa, Bản Mệnh Kim sinh mùa Thu kim, Bản Mệnh Thủy sinh mùa Đông thủy, Bản Mệnh Thổ sinh vào tứ Quý thổ (18 ngày cuối mỗi mùa) đều gọi là Mệnh được Vượng.
Bản Mệnh Mộc sinh mùa Đông thủy, Bản Mệnh Hỏa sinh mùa Xuân mộc, Bản Mệnh Kim sinh tứ Quý thổ, Bản Mệnh Thủy sinh mùa Thu kim, Bản Mệnh Thổ sinh vào mùa Hạ hỏa, đều gọi là Mệnh được Tướng.
Vượng Tướng là thuận, độ số được gia tăng. Còn Hưu Tù Tử Tuyệt đều bất thuận, độ số giảm.
Lưu ý: Đây là xét Ngũ Hành Nạp Âm của Bản Mệnh với Ngũ Hành theo “phương Cục” lại khác với trường hợp so 2 Nạp Âm với nhau. Vì đây là xét thiên về Khí chứ không coi Số làm trọng nữa. Bởi vì ngũ hành của “phương Cục” không phải là Ngũ hành nạp âm, mà nó là Khí điển hình của Mùa trong năm.
6. Chính Diệu thủ (ở cung) Mệnh:
* Miếu hay Hãm.
Các sao miếu vượng thì hay, nếu như lạc hãm thì dở. Nhưng miếu vượng mà gặp Không Vong thì dở mà lạc hãm gặp Không Vong thì lại hay.
Cái này, sách gọi là “Tinh luận miếu vượng tối phạ không vong, Sát lạc không vong cánh vô uy lực”.
(Luận các sao, đã miếu vượng thì rất sợ gặp phải Không Vong, còn Sát tinh mà gặp Không Vong thì không đáng ngại vì nó chẳng có uy lực gây họa gì nữa).
Miếu và Hãm còn liên quan rất trọng yếu đến mức độ cát hung, người xưa phân chia thành các mức độ là Hư và Thực:
Cát tinh ở nơi miếu vượng là thực cát, nhất định là có tốt lành. Còn cát tinh ở nơi hãm địa thì là hư cát, không phát huy được tính tốt, mà còn thể hiện tính xấu, mặt trái của nó.
Hung tinh ở nơi hãm địa là thực hung, nhất định là có tính hung sát, gây ra tai nạn, bệnh tật,...
Hung tinh ở nơi miếu vượng là hư hung, vì là hư hung nên chẳng đáng sợ, nó còn phát huy và bổ xung được tính quyết liệt mạnh mẽ tích cực lên cách cục, người làm nên đại sự không thể thiếu vắng sự quyết liệt của hung tinh đắc địa. Sách nói “hung tinh đắc địa phát dã như lôi” chính là vì như vậy.
Và sách cũng nói “Hung bất giai hung, cát vô thuần cát” (Hung thì không có lúc nào nó cũng hung, Cát thì cũng chẳng phải lúc nào cũng thuần là cát), chính là nói đến cái Hư Thực về tính Cát Hung của các sao vậy.
* Hợp hay không so với Bản Mệnh về âm dương tính.
Tức là xét xem tính Nam Bắc đẩu của Chính tinh và đương số là Âm Dương Nam Nữ như thế nào.
Nam đẩu tác phúc cho Dương nam Âm nữ. Bắc đẩu thì tác phúc cho Âm nam Dương nữ.
* Sinh hay Khắc so với Bản Mệnh về ngũ hành tính.
Tức là xét sinh khắc về ngũ hành của Chính tinh thủ Mệnh với Bản Mệnh. Chính Tinh đồng hành hoặc tương sinh cho bản Mệnh thì hay, còn nó tương khắc với Mệnh thì dở.
Sách gọi là:
Tinh lâm miếu vượng, tái quan sinh khắc chi cơ.
Mệnh tọa cường cung, tế sát chế hóa chi lý.
(Sao đã lâm vào nơi miếu vượng, lại cần xét xem then chốt của sinh khắc.
(Mệnh đóng vào cường cung, cần quan sát kỹ cái lý chế hóa).
7. Tốt hay Xấu giữa [cung Mệnh với cung Thân].
Sách nói:
- Yếu tri nhất thế chi vinh khô, định khán ngũ hành chi cung vị.
Lập mệnh khả tri quý tiện, an thân tiện hiểu căn cơ.
(Nên biết rằng tươi tốt hay khô héo của một đời được định bởi việc xem ngũ hành cung vị. Chỗ lập Mệnh có thể thấy được sang quý hay tiện-hèn kém, nơi an Thân có thể hiểu được căn cơ của bản thân đương số.
Một đời vinh nhục bại thành
Cần xem tường tận ngũ hành của cung
Lập Mệnh quý tiện định chung
An Thân biết có vẫy vùng được chăng).
- Vinh giả phú quý dã, khô giả bần tiện dã, nhân sinh nhất mệnh chi trung nhi kiến chi dã, thử tinh cát tá tinh cát vận hạn cát, tắc nhất sinh an nhiên.
(Người phú quý thì vinh vậy, kẻ bần tiện thì nhục vậy, xem trong số mệnh của con người mà biết vậy. Chủ tinh cát, phụ tá tinh cát, vận hạn cũng cát thì sẽ được một đời an nhiên tự tại).
- Mệnh hảo Thân hảo Hạn hảo đáo lão vinh xương,
Mệnh suy Thân suy Hạn suy chung thân khất cái.
(Mệnh tốt, Thân tốt, Hạn tốt thì tới già vẫn được vinh quang hưng thịnh,
Mệnh suy, Thân suy, Hạn suy thì cả đời chỉ có đi ăn mày).
- Mệnh Triệt, Thân Tuần, tu cần Vô hữu chính tinh, vãn niên vạn sự hoàn thành khả đãi.
Mệnh Tuần, Thân Triệt, hoan đắc Văn đoàn hữu thủ, phú quý danh tài cánh phát chung niên.
(Mệnh Triệt, Thân Tuần, rất cần Vô Chính diệu, cuối đời thì vạn sự có thể thành công.
Mệnh Tuần, Thân Triệt, mừng được Cơ Nguyệt Đồng Lương, cuối đời phát công danh phú quý).
- Mệnh Không, Thân Kiếp, lai hội song Hao, ư nhân Mệnh vô chính diệu, thiểu học đa thành,
mạc ngộ Phúc Ấm, Hao tinh Thân Mệnh, niên thọ nãi cầu vượng hưởng.
(Mệnh Không, Thân Kiếp, lại hội Song Hao, người Mệnh cung VCD thì thông minh, học 1 biết 10,
Nếu mà Mệnh cung lại có Đồng Lương hay Phá Quân ở Thân Mệnh thì đừng hòng đòi hưởng thọ).
- Mệnh Kiếp, Thân Không, nhi giao Hồng Nhận, ư tuế Mệnh lạc chính tinh, tiền đồ đa khổ,
nhi hữu Âm Dương, Đế diện Mệnh Thân, chung niên Phúc hoạnh sinh tài.
(Mệnh Kiếp, Thân Không, lại hội Hồng với Kình ở cung Mệnh có chính tinh lạc hãm là nửa cuộc đời ban đầu lắm khổ đau, thậm chí có thể chết non.
Nếu như có Nhật Nguyệt hay Tử Vi sáng sủa chiếu về Mệnh Thân thì cuối đời bỗng nhiên lại giàu).
- Thân Mệnh đồng cung, tối hiềm nhập Mộ, hoặc ư Tuyệt xứ bất kiến chính tinh,
tu cần tả hữu Vượng Sinh hòa nhập, biến hung thành cát, chung thân vượng hưởng phúc tài.
(Mệnh Thân đồng cung, rất kị ở nơi Mộ địa hoặc ở chỗ Tuyệt địa, mà lại không có chính tinh,
Mà trường hợp này rất cần ở 2 bên cánh trái phải – tức Tài Quan, là chỗ Sinh Vượng địa có các cát tinh để tương trợ biến hung thành cát, như vậy cuối đời mới được hưởng phúc, được giàu sang).
- Mệnh Thân đồng tọa, như tại Hỏa cung, hoặc lâm Hợi địa, đồng vô chính diệu,
khủng kiến Mã Hình Linh Kiếp, thử chung hoa khai ngộ vũ, mãn thế phi bần tắc yểu.
(Mệnh Thân đồng cung tại Tị Hợi mà lại VCD thì sợ nhất là gặp Mã, Hình, Linh, Kiếp
Như thế là cảnh hoa mới nở gặp ngay mưa gió vùi dập, cả đời nếu chẳng nghèo thì sẽ chết non).
8. Tốt hay Xấu của cung Phúc Đức.
Sách nói:
Phú, Thọ, Quý, Vinh, Bần, Yểu, Ai, Khổ do ư Phúc trạch cát hung.
(Giàu nghèo, thọ yểu, sang hèn, vinh nhục, đều là do cát hung ở cung Phúc cả).
Đem phối hợp với Mệnh cung mà đoán.
9. Vị trí của Chính Diệu ở 12 cung: [Miếu hay Hãm]; [đúng Vị hay sai Vị].
Miếu hãm thì như đã nói ở phần trên, còn đúng Vị thì có nghĩa là Tài tinh đóng ở Tài cung, Quyền tinh Quý tinh đóng ở Quan cung, Phúc tinh Ấm tinh đóng ở Phúc cung Phụ Mẫu cung,…
10. Vị trí của Tứ Hóa trên 12 cung: Có được việc hay không.
Hóa Quyền hóa Khoa thì đóng ở cung Quan cung Mệnh, Hóa Lộc thì đóng ở cung Điền cung Tài. Hóa Kị đóng nơi Tứ Mộ địa hoặc đồng cung Thanh Long, hoặc đồng cung Âm Dương sửu mùi, hoặc đồng cung Liêm Tham tị hợi,… đó đều là được việc cả.
11. Vị trí của Lục Sát Tinh (Kình Đà, Linh Hỏa, Kiếp Không).
Sát tinh ở nơi đắc địa thì hay, còn ở chỗ hãm thì dở, mà đã hãm thì chớ có lâm vào Mệnh Tài Quan.
Xem thêm phần nói về đắc hãm và hư thực cát hung của sao ở mục 6.
12. Đại Hạn 10 năm vận hành trên 12 cung.
Sách nói:
Thương, Tang, Hình, Khổn, Hạnh, Lạc, Hỷ, Hoan thị lại vận hạn cát hung.
(Vui buồn sướng khổ chính là do Vận Hạn gặp các Sao/ Cách cục cát hay hung)
Đem phối hợp với Mệnh cung mà đoán
GIẢI ĐOÁN 12 CUNG CHỨC NĂNG
“Cung chức” là như thế nào?
Thưa, cung chức là định danh chức năng Nhân Sự (con người và sự việc) mà cung đó quản lý, biểu hiện, mô tả. Các định danh chức năng Nhân Sự ấy có thể thí dụ như là: Cung Phụ Mẫu thì quản lý và biểu hiện về mối quan hệ của đương số đối với cha mẹ mình, đồng thời mô tả khái lược về cha mẹ của đương số. Cung Phu Thê thì quản lý và biểu hiện về mối quan hệ của đương số đối với vợ/chồng mình, đồng thời mô tả khái lược về vợ/chồng của đương số,…
Cần phải phân biệt rõ thuật ngữ “cung chức” và thuật ngữ “cung vị” trên lá số trong khi giải đoán. Đối với “cung vị” thì hàm nghĩa nhấn mạnh đến Vị trí từ Tý tới Hợi, từ quẻ Khảm tới quẻ Càn, vị trí trong tam hợp Cục, vị trí theo thời gian, theo mùa, vị trí theo vòng Tràng Sinh,…
Đối với 12 cung chức sau khi bày ra trên lá số Tử Vi đã tạo thành quần thể các mối quan hệ xã hội xung quanh đương số, với cung Mệnh làm trung tâm.
Khi giải đoán cung chức, đối với các sao cần phải lưu ý đến cung vị của nó để mà xét các cách cục cho tinh, đồng thời khi đã thuộc cách an sao và bố cục (thế đứng) của các sao thì từ 1 cung chức và cung vị nào đó, có thể hình dung ra toàn cục chính của lá số với 11 cung chức và cung vị còn lại.
Trước khi đi vào các bước giải đoán 12 cung chức, chúng ta hãy xem lại bài phú Phát Vi Luận (Sự khai mở về cách luận của Bạch Ngọc Thiềm tiên sinh):
Quan thiên đẩu số dữ Ngũ Tinh bất đồng,
án thử tinh thần dữ chư thuật đại dị.
(Xem thấy Đẩu Số với môn Ngũ Tinh có điểm không giống nhau,
từ đây ta thấy về tinh thần cơ bản nó khác nhiều với các thuật khác).
Tứ chính cát tinh định vi quý, tam phương sát củng thiểu vi kỳ;
đối chiếu hề tường hung tường cát, hợp chiếu hề quan tiện quan vinh.
(Xét tứ chính thấy cát tinh thì định là quý, Tam phương mà sát tinh vây chiếu thì kém đẹp;
Cung đối chiếu cho biết hung, biết cát, cung hợp chiếu cho biết tiện hay là vinh).
Cát tinh nhập viên tắc vi cát, hung tinh thất địa tắc vi hung.
(Cát tinh nhập mệnh, miếu đắc thì sẽ cát lợi, hung tinh mà hãm địa thì chắc chắn sẽ hung).
Mệnh phùng tử vi, phi đặc thọ nhi thả vinh;
Thân ngộ sát tinh, bất đãn bần nhi thả tiện.
(Mệnh gặp Tử Vi thì vừa thọ vừa vinh hoa;
Thân gặp sát tinh thì không những bần mà còn tiện).
Tả Hữu hội ư Tử Phủ, cực phẩm chi tôn;
Khoa Quyền hãm ư hung hương, công danh thặng đặng.
(Tả Hữu hội cùng Tử Phủ thì tôn quý đến cực phẩm,
Khoa Quyền hãm ở chỗ hung thì công danh lận đận).
Hành hạn phùng hồ nhược địa, vị tất vi tai;
lập mệnh hội tại cường cung, tất năng hàng ngoan.
(Hành hạn nếu gặp nơi nhược địa thì chưa hẳn đã gặp tai họa,
lập Mệnh ở chỗ cường cung, nhất định sẽ bớt tham lam, ương bướng, ng* d*t).
Dương Đà Thất Sát, hạn vận mạc phùng, phùng chi định hữu hình thương;
Thiên Khốc Tang Môn, lưu niên mạc ngộ, ngộ chi thực phòng phá hại.
(Vận hạn chớ có gặp Kình Đà Thất Sát, gặp thì tất sẽ bị hình thương,
Lưu niên chớ có gặp Thiên Khốc Tang Môn, gặp thì phải đề phòng trong nhà bị hao tán).
Nam đẩu chủ hạn tất sinh nam,
Bắc đẩu gia lâm tiên đắc nữ.
(Nam Đẩu chủ hạn tất sẽ sinh con trai,
Bắc Đẩu lâm hạn thì sẽ sinh con gái).
Khoa tinh cư hãm địa, đăng hỏa tân cần;
Xương Khúc tại nhược hương, lâm tuyền lãnh đạm.
(Khoa tinh cư hãm địa, thì vất vả chăm chỉ đèn sách sớm khuya,
Xương Khúc ở chỗ nhược thì ẩn mình lãnh đạm nơi rừng núi).
Gian mưu tần thiết, Tử Vi, Quý, ngộ Phá quân;
dâm bôn đại hành, Hồng Loan sai phùng Tham tú.
(Tử Vi gặp Phá Quân thì suốt ngày bày kế hiểm mưu gian,
Hồng Loan gặp (lầm) phải Tham Lang thì hành vi dâm dật).
Mệnh Thân tương khắc, tắc tâm loạn nhi bất nhàn;
huyền ảo tam cung, tắc tà dâm nhi đam tửu.
(Mệnh với Thân mà tương khắc thì tâm loạn nên chẳng được nhàn,
Ba cung Mệnh Tài Quan mà huyền ảo không sáng sủa thì tất sẽ tà dâm cùng ham rượu).
Sát lâm tam vị, định nhiên thê tử bất hòa;
Cự đáo nhị cung, tất thị huynh đệ vô nghĩa.
(Sát tinh lâm vào tam vị - Phu Thê cung, chắc chắc bất hòa với vợ con,
Cự Môn đến nhị cung - Huynh Đệ cung, thì anh em vô tình vô nghĩa).
Hình sát thủ Tử cung, tử nan phụng lão;
chư hung chiếu Tài bạch, tụ tán vô thường.
(Hình sát tinh ở cung Tử Tức, khó có được con chăm sóc lúc già;
Các hung tinh chiếu vào Tài Bạch, thì tiền tụ tán vô thường).
Dương Đà thủ Tật Ách, nhãn mục hôn manh;
Hỏa Linh đáo Thiên Di, trường đồ tịch mạc.
(Kình Đà thủ Tật Ách thì mắt kém, mắt đau, mắt mờ,
Hỏa Linh đến cung Thiên Di, thì đường đời phía trước sẽ cô đơn vắng vẻ).
Tôn tinh liệt tiện vị, chủ nhân đa lao;
ác tinh ứng Mệnh cung, nô bộc hữu trợ.
(Các sao tôn quý bày vào chỗ thấp kém, thì chủ nhân nhiều gian khổ,
ác tinh ứng vào Mệnh cung thì Nô Bộc có sự tương trợ).
Quan Lộc ngộ Tử Phủ, phú nhi thả quý;
Điền Trạch ngộ Phá Quân, tiên phá hậu thành.
(Quan Lộc cung gặp Tử Phủ thì vừa phú vừa quý,
Điền Trạch gặp Phá Quân thì trước phá hết sau mới thành được).
Phúc Đức ngộ Không vong Kiếp, bôn tẩu vô phương;
Tướng Mạo gia hình sát, hình khắc nan miễn.
(Phúc Đức gặp Địa Kiếp, Không Vong, thì lang thang vô định,
Tướng Mạo, tức Phụ Mẫu cung, mà thêm Hình Sát, thì việc hình khắc là khó tránh được).
Hậu học giả chấp thử suy tường, vạn vô nhất thất.
(Học giả đời sau theo đây mà suy cho rõ, đảm bảo không sai).
1. Giải đoán cung Mệnh
Các bước phía trên (phần A, B ) đã nói rất nhiều đến những lý luận để giải đoán cung Mệnh, đồng thời những phần tính lý chung của các sao cũng hầu hết đều dùng cung Mệnh làm đại diện để mô tả tính chất của chúng. Cho nên mọi người cần đọc lại và nắm cho vững, còn trong phần này xin dành để trình bày phần phụ luận cho cung Mệnh với các điểm cần quan tâm như an Mệnh vào Kim Tỏa Thiết Xà và an Mệnh theo giờ Quan Sát.
a. Kim Tỏa Thiết Xà quan.
Về tên gọi thì còn được biết đến với tên gọi là “Kim Xà Thiết Tỏa”, nhưng quả thực tôi cũng không hiểu nghĩa của “Kim Xà Thiết Tỏa” là cái gì, theo tôi suy đoán thì có lẽ do phương pháp truyền khẩu nên đây là một cách gọi lệch đi của “Kim Tỏa Thiết Xà” mà thôi, dần dà cứ gọi nhiều thành quen nên cứ dùng như vậy.
“Kim Tỏa” thì chúng ta vẫn thường biết đến với cụm từ “vòng Kim Tỏa” tức là vòng xiềng xích khóa chặt, vây hãm nguy hiểm,… và “Thiết Xà” nghĩa là con rắn đen, còn chữ “quan” có nghĩa là cửa ải. Vì vậy, “Kim Tỏa Thiết Xà quan” có nghĩa là cái cửa ải nguy hiểm bị bao vây bởi những con rắn đen, hoặc nghĩa là Khóa vàng Rắn sát bao vây.
Cách xác định cung an vào chỗ Kim Tỏa Thiết Xà quan như sau:
Đương tòng Tuất thượng, khởi Tý niên,
Thuận số hành niên, nguyệt nghịch thôi,
Nhật hựu thuận số, thì nghịch chuyển,
Tiểu nhi thọ yểu, khả tiên tri.
(Tuất cung hô Tý đếm theo năm,
Thuận tới niên sinh, nghịch tháng trăng,
Đi thuận ngày sinh, giờ nghịch chuyển
Tiên tri trẻ thọ hoặc yểu chăng).
Phép ấy, theo Tuất cung khởi năm Tý mà đi thuận cho đến Địa Chi năm sinh, (đến cung nào) lại từ đó mà khởi tháng Giêng đếm nghịch tới Tháng Sinh, (đến cung nào lại từ đó mà) khởi ngày mồng 1 đếm thuận đến Ngày Sinh, (đến cung nào lại từ đó mà) khởi giờ Tý đếm nghịch đến Giờ Sinh.
Nếu cung cuối cùng mà thấy của Nam rơi vào cung Thìn Tuất, của Nữ rơi vào Sửu Mùi thì gọi là rơi vào “Kim Tỏa Thiết Xà quan” (hoặc gọi là sinh vào giờ Kim Tỏa Thiết Xà), rất đáng lo ngại vì từ lúc sinh ra khó nuôi, dễ chết yểu, phải qua 12 tuổi thì mới đỡ lo.
Nếu cung cuối cùng mà thấy của Nam rơi vào Sửu Mùi, của Nữ rơi vào Thìn Tuất thì gọi là Bàng giờ, trẻ tuy là hay ốm yếu khó nuôi nhưng còn đỡ lo ngại về yểu tử hơn là rơi vào chính cửa ải Kim Tỏa Thiết Xà.
Nguyên lý nào dẫn đến hiện tượng này, cho đến nay vẫn chưa được lý giải thuyết phục, chỉ thấy kinh nghiệm của các cụ truyền lại và thực tế có nhiều ứng nghiệm như vậy, thành ra cần phải nghiên cứu thêm nữa.
Lưu ý: Nhấn mạnh trường hợp tính đến cung cuối cùng (lúc tính đến giờ sinh) lại trúng cung an Mệnh mà trùng lặp vào chỗ Thìn Tuất (với Nam), chỗ Sửu Mùi (với Nữ) đồng thời khi tính Kim Tỏa Thiết Xà Quan. Những lá số như thế rất đáng lo ngại. Ngoài ra, khi tính Kim Tỏa Thiết Xà Quan nhưng cung an Mệnh không trùng vào chỗ Thìn Tuất Sửu Mùi thì ít lo ngại hơn, tuy nhiên vẫn thuộc mẫu lá số có nguy cơ cao về yểu mạng, sau 13 tuổi thì đỡ lo. Cách giải là đem bán khoán trẻ cho nhà chùa.
b. Cung lập Mệnh với giờ Quan Sát
Giờ Quan Sát được xác định bằng cách dùng tháng sinh và giờ sinh như:
Sinh tháng Giêng vào giờ Tị,
sinh tháng Hai vào giờ Ngọ,
sinh tháng Ba vào giờ Mùi,
sinh tháng Tư vào giờ Thân,
sinh tháng Năm vào giờ Dậu,
sinh tháng Sáu vào giờ Tuất,
sinh tháng Bảy vào giờ Hợi,
sinh tháng Tám vào giờ Tý,
sinh tháng Chín vào giờ Sửu,
sinh tháng Mười vào giờ Dần,
sinh tháng Một vào giờ Mão,
sinh tháng Chạp vào giờ Thìn.
Đương số rơi vào các trường hợp trên thì gọi là sinh vào giờ Quan Sát, thường hay ốm yếu, bệnh tật, hoặc dễ bị các tai nạn,…
Với cách an Mệnh cung trong Tử Vi thì ta dễ dàng nhận thấy, sinh vào giờ Quan Sát chính là trường hợp cung Mệnh luôn luôn an cố định tại cung Dậu. Và ở vị trí này thì Mệnh cung vĩnh viễn nhị hợp vào cung Tật Ách, luôn trái lý âm dương với nhau. Tam hợp Cục của cung Mệnh thuộc Kim và sinh xuất cho tam hợp Cục của cung Tật thuộc Thủy, khiến cho nguyên khí của Mệnh cung bị tổn hao, suy giảm. Trường hợp này, quả là Mệnh bị coi như là cung Nô của Ách. Nhân gây ra ở Mệnh thì Quả chịu ở Tật Ách.
Tương đồng cái lý của giờ Quan Sát thì ta bắt gặp một số trường hợp đặc biệt chính là “giờ Dạ Đề”.
Cách tính giờ Dạ Đề là:
sinh mùa Xuân vào giờ Ngọ,
sinh mùa Hạ vào giờ Dậu,
sinh mùa Thu vào giờ Tý,
sinh mùa Đông vào giờ Mão.
Trẻ con mà rơi vào các trường hợp này thì rất hay kêu khóc vào đêm (dạ đề), có khi khóc suốt 3 tháng (hoặc 100 ngày) đầu đời.
Như ta đã biết, mỗi mùa gồm có 3 tháng, phân ra làm Mạnh – Trọng – Quý, nếu như xét các tháng Chính giữa mùa là:
Trọng Xuân (chứa điểm Xuân Phân, Mặt Trời ở kinh độ 0 độ trên vòng Hoàng Đạo) là tháng Hai, sinh vào giờ Ngọ;
Trọng Hạ (chứa điểm Hạ Chí, Mặt Trời ở kinh độ 90 độ trên vòng Hoàng Đạo) là tháng Năm, sinh vào giờ Dậu;
Trọng cổ học tử vi Thu (chứa điểm Thu Phân, Mặt Trời ở kinh độ 180 độ trên vòng Hoàng Đạo) là tháng Tám, sinh vào giờ Tý;
Trọng Đông (chứa điểm Đông Chí, Mặt Trời ở kinh độ 270 độ trên vòng Hoàng Đạo) là tháng Một, sinh vào giờ Mão;
Thì thấy rõ ràng giờ Dạ Đề là một dạng của giờ Quan Sát, chỉ có điều khi xét chung cho cả 3 tháng của một mùa thì ảnh hưởng phân tán nên không bị ảnh hưởng mạnh mẽ như là giờ Quan Sát mà thôi.
Nguyên lý của giờ Quan Sát, giờ Dạ Đề, giờ Tướng Qu?